Tổng quan về bệnh viêm phế quản

1./Giới thiệu chung

 

Bệnh viêm phế quản (VPQ) là một bệnh lý của đường hô hấp, trong đó niêm mạc của các phế quản trong phổi bị viêm. Niêm mạc phế quản bị kích thích sẽ phồng và dầy lên và làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiểu phế quản, sẽ gây ra ho và có thể kèm theo đờm (đàm) đặc.

 

2./Phân loại bệnh
Bệnh diễn tiến theo 2 dạng: 

 

Bệnh viêm phế quản cấp tính: kéo dài ngắn hơn 6 tuần. Thường gặp ở cả người lớn và trẻ em, là tình trạng nhiễm khuẩn nhanh & ngắn hạn ở các phế quản và thỉnh thoảng có kèm nhiễm khuẩn đường hô hấp trên.
Bệnh viêm phế quản mạn tính: tái phát thường xuyên trong vòng hơn 2 năm. Bệnh diễn tiến nặng và kéo dài, thường phải được điều trị đều đặn.
Bệnh VPQ mạn tính có 3 loại chính:
Thể đơn thuần ho khạc đờm nhày.
Thể đờm mủ (hay mắc đi mắc lại).
Thể khó thở.
 

bai-thuoc-07

 

3./Nguyên nhân 
Bệnh viêm phế quản cấp tính: Thường do viêm nhiễm ở phổi, 90% bắt nguồn từ siêu vi (virus), 10% từ vi khuẩn.
Bệnh viêm phế quản cấp tính: Thường do một hoặc nhiều yếu tố. Nhiều đợt VPQ cấp lặp đi lặp lại theo thời gian sẽ làm suy yếu và gây kích thích ở phế quản và có thể gây nên VPQ mạn tính. 

 

Ô nhiễm công nghiệp cũng là một thủ phạm. VPQ mạn tính thường gặp ở những người khai thác than, tiếp xúc thường xuyên với ngũ cốc, làm khuôn đúc kim loại, tiếp xúc liên tục với bụi.
Nhưng nguyên nhân chính là nghiện thuốc lá nặng trong thời gian dài mà có thể làm kích thích phế quản và khiến chúng tiết ra quá nhiều chất đờm nhầy.
Các triệu chứng của VPQ mạn tính có thể bị nặng hơn nếu trong không khí có nhiều SO2 hay các chất ô nhiễm khác.

 

4./Triệu chứng
Các triệu chứng có thể gặp trong VPQ cấp tính là: 

Ho liên tục.
Có đờm màu vàng, trắng hoặc xanh lá cây, thường xuất hiện từ 24-48 giờ sau khi ho.
Sốt cao, lạnh run.
Đau hay cảm giác thắt ngực.
Đau dưới xương ức khi thở.
Thở ngắn.
Các triệu chứng có thể gặp trong VPQ mạn tính là:
Ho kéo dài có đờm màu vàng, trắng hoặc xanh lá cây (kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và liên tục trong hơn 2 năm).
Hơi thở khò khè, đôi khi ngừng thở.

 

Các dấu hiệu nặng của VPQ: Cần đưa bệnh nhân đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị thích hợp khi có một trong những dấu hiệu sau:

 

Ho nhiều, kéo dài và làm ảnh hưởng đến giấc ngủ hoặc các sinh hoạt hàng ngày, hoặc có kèm đau ngực dai dẳng. Có thể bệnh nhân đang bị tổn thương các phế nang bên trong phổi.
Các triệu chứng kéo dài trên 1 tuần và đờm trở nên nhiều hơn, sậm màu hơn, đặc hơn hoặc có máu.
Bệnh nhân bị VPQ cấp tính mà có kèm các vấn đề về tim phổi mạn tính, hoặc bị nhiễm virus HIV, nhiễm trùng hô hấp,… mà có thể làm cho bệnh nhân dễ mắc các bệnh lý ở phổi nặng hơn như viêm phổi.
Khó thở: Đây là triệu chứng thường bị hiểu lầm là do VPQ. Nhưng nó còn là dấu hiệu của bệnh hen suyễn, khí phế thủng, lao phổi, bệnh tim, phản ứng dị ứng nặng hoặc do ung thư.

 

5./Phòng ngừa 
Phòng bệnh ở 3 cấp độ: 

 

Dự phòng căn nguyên, loại trừ các yếu tố gây bệnh: Đây là bước dự phòng cơ bản.
Dự phòng “chậm trễ”: phát hiện kịp thời, điều trị đúng lúc.
Dự phòng “tàn phế”: tích cực điều trị dù đã muộn, hạn chế tàn phế, đẩy lùi tử vong.
Các biện pháp cơ bản là:
Không hút thuốc và loại bỏ các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí (khói, bụi, không khí bẩn) trong gia đình cũng như nơi làm việc.
Điều trị triệt để các ổ viêm nhiễm mạn tính vùng mũi họng.
Giảm uống rượu.
Phòng các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho trẻ em.
Điều trị sớm và triệt để các viêm nhiễm cấp tính đường hô hấp. Viêm đường hô hấp trên dễ dẫn đến VPQ.
6./Điều trị 
VPQ cấp tính: Có thể được điều trị hiệu quả mà không cần phải tiến hành chăm sóc y tế đặc biệt.
Do hầu hết các trường hợp viêm phế quản cấp đều có nguyên nhân từ virus nên các loại kháng sinh không có vai trò điều trị, bệnh có thể tự khỏi sau vài ngày hoặc một tuần.
Điều trị thông thường cho VPQ cấp tính bao gồm nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ngưng hút thuốc, tránh bị xúc động.
Ở một số trường hợp, bác sĩ có thể kê toa các thuốc thường thấy trong điều trị hen suyễn nhằm mục đích làm sạch đờm nhớt trong phế quản.
VPQ mạn tính: Về nguyên tắc, điều trị viêm phế quản mạn cần đạt được 3 mục tiêu: chống nhiễm khuẩn mới, phục hồi lưu thông không khí và chống nguy cơ suy hô hấp.
Không nên tự ý mua thuốc ho khi chưa được bác sĩ hướng dẫn. Khi có nhiễm trùng hô hấp, bác sĩ có thể cho dùng kháng sinh phổ rộng từ 5-10 ngày để điều trị nhiễm trùng. Nếu bệnh nhân bị kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) thì bác sĩ có thể kê đơn thuốc giãn phế quản kháng hệ thống cholinergic. Đây là những thuốc giúp làm giãn tạm thời các phể quản bị hẹp trong phổi. Ngoài ra cũng có thể sử dụng thuốc nhóm steroid để làm giảm hiện tượng viêm trong các phế quản. Tuy nhiên biện pháp điều trị quan trọng nhất và thành công nhất cho bệnh VPQ mạn tính và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là ngưng hút thuốc.
Trong trường hợp VPQ mạn tính có kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng, thì cơ thể bị suy giảm về khả năng vận chuyển oxy từ phổi vào máu. Do đó bác sĩ có thể cho bệnh nhân thở oxy liên tục hoặc tùy theo nhu cầu.
Nếu bệnh nhân bị VPQ mạn tính thì sẽ có nguy cơ khởi phát các bệnh lý về tim mạch cũng như những bệnh lý nặng nề về hô hấp và nhiễm trùng. Do đó bệnh nhân cần được bác sĩ theo dõi chặt chẽ.

 

7./Điều trị tại nhà
VPQ cấp tính: 

 

Khi bị sốt, thở nhanh, khò khè thì bạn nên ở nhà, giữ ấm, uống nhiều nước.
Không cần thiết phải luôn nằm tại giường và cũng không nên vận động quá nhiều.
Có thể sử dụng bình xịt hơi hoặc cố gắng hít hơi nước nóng từ trong bình chứa đầy nước nóng.

 

VPQ mạn tính: 

 

Tránh tiếp xúc với nước sơn, xúc động quá mức, bụi và người đang bị cảm cúm.
Có thể sử dụng bình xịt hơi hoặc cố gắng hít hơi nước nóng từ bình chứa đầy nước nóng, mặc đồ ấm khi trời lạnh và khô.