Tổng quan về bệnh lao

1./Thông tin chung về bệnh

 
Bệnh lao là một căn bệnh trong số những loại bệnh hay gặp nhất tại Việt Nam. Lao là một bệnh truyền nhiễm dễ dàng lây lan từ người này sang người khác. Bệnh mắc phải bởi một loại vi trùng có tên là Mycobacterium tuberculosis gây ra. Lao phổi này giết hơn hai triệu người mỗi năm trên toàn thế giới và chủ yếu con số tử vong này xảy ra ở các nước đang phát triển.

 
Trên toàn thế giới, người bị nhiễm vi trùng lao chiếm 1/3, tuy nhiên, hầu hết không có triệu chứng của bệnh. Ở những người này, vi trùng ở dạng không hoạt động và người đã bị nhiễm lao trong giai đoạn bất hoạt này không lây bệnh sang người khác. Khi hệ thống miễn nhiễm của cơ thể bị yếu đi, vi trùng lao sẽ “vùng dậy”, tái hoạt và gây ra bệnh lao.

 
Bệnh lao là mội căn bệnh truyền nhiễm gây chết đứng hàng thứ hai, chỉ sau bện HIV. Nhiều người bị HIV cũng đã bị chết vì sự hoành hành của lao khi hệ miễn dịch đã quá suy yếu.

 
Nguyên nhân mắc bệnh cũng đã nói ở trên, bệnh lao gây ra bỡi vi trùng lao. Tuy nhiên, có vài trường hợp mắc bệnh do sức khỏe cả mỗi người, nếu cơ thể khỏe mạnh, vi trùng sẽ nằm yên, chỉ khi nào cơ thể yếu đi, vi trùng mới lợi dụng cơ hội, vùng lên để gây ảnh hưởng đến chủ thể mắc bệnh.

 

2./Phân loại và nguyên nhân

 
Vi trùng gây ra bệnh lao thường được lây truyền qua đường hô hấp. Vi trùng nằm trong các hạt nhỏ li ti văng ra không khí khi ho hoặc khi ách xì. Tiếp xúc với bệnh nhân lao một lần thường ít khi gây ra bệnh.

 
Tuy nhiên, nếu chủ quan tiếp xúc nhiều thì nguy cơ bị nhiễm bệnh càng cao. Đụng chạm, dùng chung khăn, ăn uống chung không làm bệnh bị lan truyền. Bệnh chỉ xảy ra khi các hạt khí chứa vi trùng được hít vào phần sâu nhất của phổi, sinh con đẻ cái ở đó và lan tràn ra toàn cơ thể.

 
Bệnh lao phổi thường có thể xảy ra ở hai dạng chính là: lao phổi tiên phát và lao phổi thứ phát, trong một số ít trường hợp, vi trùng lao có thể vào máu lan tràn khắp cơ thể.

Lao phổi tiên phát: 

 
Chiếm khoảng 5 phần trăm các bệnh nhân, hệ thống miễn dịch không thể ngăn nổi vi trùng ngay từ lúc xâm nhập đầu tiên, và do đó vi trùng phát triển mạnh ngay từ đầu. Những người bị lao phổi tiên phát, thường gặp hơn ở trẻ em đặt biệt là ở các nước còn nghèo, những người bị suy yếu miễn dịch, ví dụ như bị nhiễm HIV, cũng có khả năng bị mắc lao phổi tiên phát nhiều hơn.

Lao phổi thứ phát:

 
Chiếm khoảng 95% những người bị nhiễm lao có thể bất hoạt vi trùng lao ngay từ đầu. Đa số những người này không bao giờ bị lao, chỉ có ở một số nhỏ, vi trùng có thể tái hoạt và sinh con đẻ cái khi cơ thể bị yếu đi, thắng được sức đề kháng của cơ thể. Vi trùng sau đó có thể tàn phá những phần lớn của phổi, tạo ra các hang lao chứa đầy vi trùng lao và các tế bào phổi đã bị chết.

 

Weekly German Cabinet Meeting

 

3./Triệu chứng

 
Các bệnh nhân bị bệnh lao phổi, đặc biệt là trẻ em, thông thường chỉ bị sốt nhẹ và uể oải, mệt mõi. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác có thể là:

 
Ho .

 
Đổ mồ hôi trộm ban đêm .

 
Kém ăn .

 
Đau ngực .

 
Trẻ em không lên cân như các trẻ bình thường khác.

 
Đối với bênh lao thứ phát sẽ gây ra các triệu chứng như:

 
Sốt .

 
Sụt cân .

 
Đổ mồ hôi trộm ban đêm .

 
Kém ăn .

 
Đau ngực .

 
Yếu sức .

 
Luôn uể oải, “muốn bệnh”.

 
Người bị nhiễm bệnh cũng thường bị ho, lúc đầu có thể là ho nhẹ, dần dần có đàm màu xám xỉn. Khi bệnh đã trở nặng, có thể ho ra máu, hụt hơi, khó thở.

 
Đến giai đoạn bệnh phát triển bên ngoài phổi, xuất hiện thêm các triệu chứng sẽ tùy theo cơ quan, bộ phận nào của cơ thể bị nhiễm bệnh. Ví dụ lao hạch sẽ gây ra sưng hạch, thường là hạch cổ. Nếu lao xương khớp sẽ gây sưng đau xương khớp, thường bị ảnh hưởng nhất là khớp hông, gối, xương sống. Lao đường tiết niệu có thể gây ra đau vùng hông, tiểu gắt, tiểu ra máu…

4./Biến chứng

 
Bị mắc bệnh lao sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho người bệnh, nó rất nguy hiểm, nhưng nguy hiểm hơn cả là những biến chứng do nó gây ra. Biến chứng nguy hiểm của lao phổi là ho ra máu và tràn khí màng phổi.

 
Ho ra máu:

 
Ho ra máu thường được biết như một triệu chứng và cũng là một biến chứng của bệnh lao phổi. Lượng máu ho ra có thể rất ít, có 3 mức độ ho ra máu: Ở mức độ nhẹ, chỉ là những tia máu, sợi máu lẫn trong chất khạc, lượng máu ho ra dưới 50ml/24 giờ; ở mức độ vừa, lượng máu ho ra trong 24 giờ từ 50-200ml; ở mức độ nặng, lượng máu ho ra trong 24 giờ trên 200ml.

 
Tình trạng ho ra máu có thể dai dẳng kéo dài cả tháng (trung bình từ 7-10 ngày), nếu bệnh nặng hơn bệnh nhân có thể đột ngột ộc ra hàng trăm, hàng nghìn ml máu trong thời gian ngắn, thậm chí có thể đưa đến tử vong tức khắc nếu bệnh nhân không được cấp cứu kịp thời.

 
Ho ra máu rất nguy hiểm vì nó gây ra mất máu cấp, lượng máu đó có thể rất nhiều, nếu ho ra máu không cầm được, bệnh nhân có thể tử vong ngay tức khắc.

 
Cũng có khi ho ra máu không nhiều, nhưng cũng cực kỳ nguy hiểm vì lượng máu đó tắc nghẽn trong các phế quản, khí quản và các phế quản nhỏ làm cho bệnh nhân nghẹt thở như bị chết đuối, bị thắt cổ.

 
Ở người suy kiệt, có thai hoặc đang mắc một bệnh nào đó: suy tim, viêm gan, suy thận…, thì dù lượng máu mất đi do ho ra máu không nhiều, cũng làm bệnh trạng nặng lên nhiều, đẩy bệnh nhân đến bờ vực nguy hiểm.
Người bệnh khi bị ho ra máu thường hốt hoảng, lo sợ và càng hốt hoảng lo sợ lại càng ra máu nhiều tạo nên một vòng luẩn quẩn rất nguy hại cho bệnh nhân.

Tràn khí màng phổi:

 
Tràn khí màng phổi xảy ra khi màng phổi bị rách, không khí từ các phế nang bị rách hay từ bên ngoài tràn vào ép xẹp phổi.
Tràn khí màng phổi có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó một nguyên nhân có thể gặp là lao phổi. Tổn thương lao ở phổi nhuyễn hóa, ăn mòn, phá hủy phổi – màng phổi gây loét thủng phế nang, phế quản, màng phổi, hoặc tạo nên các bóng dãn phế nang, khi các bóng này vỡ sẽ gây tràn khí màng phổi. Tràn khí màng phổi ép phổi xẹp lại gây ra khó thở cấp, gây rối loạn hô hấp.

 
Rối loạn này không chỉ do phần phổi bị xẹp mà còn do phần phổi lành phía bên đối diện cũng giảm hoạt động, vì bị áp lực dương tính bên phía tràn khí đẩy và khuynh hướng tự co lại của phổi lành, kéo trung thất sang phía đó. Ngoài ra, do đau nên bệnh nhân không dám thở mạnh và tình trạng sốc khi bị tràn khí cũng làm giảm hoạt động hô hấp.

 
Tràn khí màng phổi còn ảnh hưởng đến tuần hoàn, cản trở máu về tim. Nếu sau tràn khí lại có tràn dịch phản ứng, tràn máu màng phổi do màng phổi khi thủng, rách, đứt một mao mạch nào đó của màng phổi hoặc gây biến chứng tràn mủ màng phổi ở cặn màng phổi thì những biến loạn trên hô hấp, tuần hoàn càng nặng nề hơn.

 
Tràn khí màng phổi có nhiều loại, nhưng đáng lo ngại nhất là tràn khí màng phổi trung thất, vì trong loại tràn khí này các cơ quan quan trọng như các động mạch, tĩnh mạch phổi, quai động mạch chủ, các dây thần kinh trong khu vực trung thất, tim, v.v… bị khí trực tiếp đè ép.

 
Tràn khí màng phổi cần được giải quyết kịp thời, nhưng có thể gây tử vong nếu là tràn khí trung thất hoặc làm các cơ quan trung thất bị kéo đẩy hoặc nếu xảy ra ở người suy yếu, suy kiệt, có tổn thương phổi nặng.

 
5./Phòng ngừa bệnh

 
Để phòng chống bệnh lao có hiệu quả, ngay tháng đầu sau sinh, tất cả trẻ đều phải tiêm phòng vắc-xin BCG nhằm giúp ngăn ngừa các bệnh lao cấp tính. Mọi người khi ho kéo dài hơn 2 tuần cần đi khám, xét nghiệm đờm, chụp X.quang phổi để phát hiện bệnh lao.
Đặc biệt khi bị bệnh lao phải điều trị càng sớm càng tốt, tránh lây lan cho những người trong gia đình và người xung quanh. Bên cạnh đó, bệnh nhân lao không được khạc nhổ bừa bãi, tốt nhất đeo khẩu trang liên tục trong 2 tháng đầu điều trị.

 
Cần phơi chăn, chiếu, vật dụng của bệnh nhân lao ra nắng mỗi ngày. Nhà cửa cần thoáng mát, sạch sẽ. Đối với những người bị tiểu đường, suy dinh dưỡng, người có HIV… rất dễ bị bệnh lao, do đó phải thường xuyên khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện sớm bệnh lao. Đồng thời, cần có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý, thường xuyên luyện tập thể dục để tăng cường sức khỏe, phòng tránh bệnh tật.
Cộng đồng cần có quan niệm đúng về bệnh lao, không nên mặc cảm hoặc kỳ thị người mắc bệnh lao để chương trình phòng chống lao ngày càng hiệu quả, tiến tới mục tiêu vì Việt Nam không còn bệnh lao vào năm 2030./.

 
6./Điều trị bệnh

 
Bệnh lao có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đúng phác đồ, đủ thời gian.

 
Thuốc điều trị bệnh lao được cấp miễn phí.

 
Người bệnh không được tự ý bỏ điều trị vì như vậy bệnh không khỏi mà còn sinh ra lao kháng thuốc, điều trị càng khó khăn.

 
Trong quá trình điều trị người bệnh cần thực hiện nguyên tắc đúng – đủ – đều (đúng phác đồ; đủ thuốc, đủ thời gian; đều đặn hàng ngày).