Tổng quan về bệnh sỏi mật

1./Giới thiệu chung

Mật là một chất lỏng màu nâu, thành phần gồm muối mật, cholesterol, bilirubin và lecithin. Lecithin là chất màu nâu sậm làm mật và phân có màu nâu. Túi mật là một túi có dạng hình lê nằm ở bên dưới gan. Nó là nơi dự trữ mật do gan bài tiết ra. Trong bữa ăn, túi mật co bóp để tống mật qua đường mật vào ruột non để giúp tiêu hóa thức ăn.

 
Sỏi mật là một khối cứng trong túi mật. Nó được tạo nên khi những thành phần của mật kết tủa ra khỏi dung dịch và tạo nên vật thể. Sỏi mật cũng được tạo thành ki các đặc trưng vật lý có sự thay đổi làm cho cholesterol bị giảm tính hòa tan.
Sỏi mật có thể nhỏ như hạt cát (sạn túi mật) hay lớn bằng trái banh golf. Túi mật có thể tạo nên một sỏi mật lớn, hàng trăm những sỏi nhỏ hay hỗn hợp cả hai loại.

2./Phân loại và nguyên nhân gây ra bệnh

 
Có hai loại sỏi mật, là sỏi cholesterol và sỏi sắc tố (hay còn gọi là sỏi mật biliburin).

Sỏi cholesterol: Sự gia tăng số lượng cholesterol trong mật làm quá khả năng hòa tan của muối mật sẽ dẫn tới hình thành sỏi cholesterol. Tương tự vậy, sự giảm số lượng muối mật cũng thúc đẩy việc hình thành sỏi cholesterol. Loại bệnh này thường gặp ở Hoa Kỳ và Tây Âu.

 
Sỏi sắc tố: Thường liên quan tới tình trạng nhiễm trùng mạn tính ở đường mật. Điều này thường thấy nhất ở các quốc gia Châu Á, nơi mà tình trạng nhiễm ký sinh trùng đường mật thường gặp.

 
Sỏi sắc tố đen: xảy ra khi có quá nhiều biliburin trong mật, khiến chúng bám vào các khoáng chất khác như canxi và hình thành sắc tố. Theo thời gian, các hạt này bắt đầu lớn lên và trở thành sỏi sắc tố đen, cứng, có dạng như đá.

 
Sỏi sắc tố nâu: xảy ra khi vi khuẩn từ tá tràng (phần đầu tiên của ruột non) xâm nhập vào túi mật, làm thay đổi cấu trúc biliburin. Sau đó, biliburin kết hợp với canxi và chất béo trong mật, hình thành sỏi sắc tố nâu.

 

images
3./Triệu chứng

 
Tùy thuộc vào kích thước, số lượng, cũng như vị trí sỏi mật, mức độ nghiêm trọng của triệu chứng có thể khác nhau, bao gồm:

 
Đau bụng: với tính chất đau ở vùng hạ sườn phải, kiểu đau quặn gan.

Thường xảy ra sau bữa ăn nhiều mỡ, đau nhiều về đêm khoảng 23-24 giờ.
Khi đau kèm theo nôn, bệnh nhân không dám thở mạnh.
Cơn đau kéo dài vài giờ đến vài ngày.

Rối loạn tiêu hoá: chậm tiêu, bụng trướng hơi, bệnh nhân sợ mỡ, táo bón hoặc tiêu chảy sau bữa ăn.

 
Cơn đau nửa đầu: đau nửa đầu dữ dội, khi đau có nôn nhiều.

 
Sốt do bị viêm đường mật, túi mật, sốt cao đột ngột kéo dài vài 3 giờ:

Sốt và đau hạ sường phải đi đôi với nhau, nếu đau nhiều thì sốt cao.
Có khi sốt kéo dài vài tuần, hằng tháng.
Có khi sốt nhẹ 37.5 – 38 độ C.
Nếu không viêm thì không sốt.

Vàng da và niêm mạc xảy ra sau đau và sốt 1-2 ngày:

Vàng da kiểu tắc mật gồm da, niêm mạc vàng, nước tiểu vàng, phân bạc màu.
Vàng da có ngứa, thuốc chống ngứa không kết quả, mạch chậm.
Vàng da mất đi chậm hơn đau và sốt.

4./Các biến chứng liên quan đến sỏi mật

 
Nếu không được chữa trị, sỏi mật có thể gây hậu quả nghiêm trọng vì chúng có thể di chuyển trong mật làm tắc ống dẫn. Tuy nhiên, nếu loại bỏ sỏi mật sớm, bệnh nhân có thể tránh được tình trạng này.

Đau bụng mật: là tình trạng xảy ra khi ống gan hoặc ống dẫn mật chung đột nhiên bị tắc nghẽn do sỏi mật. Chất dịch từ gan vẫn được sản xuất và tích tụ trong túi mật, gây chướng (viêm và sưng phồng) trong túi mật hoặc ống dẫn. Điều này dẫn đến cơn đau dữ dội và kéo dài ở bụng, kèm theo buồn nôn.

 
Cholecsystitis là tên gọi của bệnh viêm túi mật: Đây là kết quả của sự tắc nghẽn đột ngột do sỏi mật, làm vi khuẩn phát triển trong túi mật. Đặc trưng của tình trạng này là cơn đau dữ dội ở vùng bụng trên bên phải. Sốt và số lượng tế bào bạch cầu cao cũng là các triệu chứng của căn bệnh này.

 
Viêm túi mật xảy ra khi mật trong các ống dẫn bị nhiễm trùng do sỏi mật làm tắc ống dẫn. Sự nhiễm trùng được lây lan từ ruột tới các ống dẫn. Tình trạng nghiêm trọng này có biểu hiện là sốt cao và số lượng tế bào bạch cầu cao. Bệnh nhân có nguy cơ bị nhiễm trùng máu, nếu nhiễm trùng xâm nhập vào máu và lây lan khắp cơ thể. Viêm túi mật cũng có thể dẫn đến bệnh áp-xe gan, nghĩa là tích tụ mủ trong gan, hoặc nhiều biến chứng khác do nhiễm trùng.

 
Hoại tử túi mật là trường hợp chứng viêm và chướng túi mật ngăn chặn dòng máu chảy đến túi mật, làm túi mật không hoạt động nữa. Điều này làm tăng nguy cơ vỡ túi mật, làm chất lỏng tràn ra ngoài vào trong khoang bụng.

5./Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh

 
Những nhóm người sau đây có nguy cơ phát triển sỏi mật:

Xảy ra ở nữ giới nhiều hơn nam và có xu hướng tăng dần theo độ tuổi.
Người béo phì, phụ nữ sinh đẻ nhiều, dùng thuốc tránh thai kéo dài,…
Những người làm văn phòng, lao động trí óc, ít vận động, ít chơi thể thao.
Những người đã bị mổ cắt dạ dày, cắt đoạn ruột,…
Những người mắc bệnh nhiễm ký sinh trùng, đặc biệt là giun sán.
Những người ăn uống thất thường, hay ăn về khuya, hay ăn nhiều mỡ,…

6./Cách phòng bệnh 

 
Bệnh sỏi mật có nhiều tác động xấu đến sức khỏe và chất lượng sống của người bệnh nên việc phòng ngừa căn bệnh này là điều rất cần thiết. Dưới đây là những cách ngăn ngừa sự hình thành sỏi mật: 

Kiểm soát cân nặng: Những người béo phì thường có nguy cơ mắc bệnh rất cao do có thói quen tiêu thụ thức ăn chứa nhiều chất béo động vật và cholesterol. Bởi thế cho nên bạn phải luôn kiểm soát cân nặng của mình ở mức bình thường, đừng để tăng cân quá mức nhưng cũng đừng giảm cân quá nhanh chóng nhằm phòng ngừa bệnh sỏi mật một cách hiệu quả.

Ăn uống lành mạnh:

Một chế độ ăn uống ít chất béo, giàu chất xơ không chỉ giúp bạn giảm cân mà còn giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh sỏi mật một cách hữu hiệu. Bạn nên ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ như trái cây tươi, rau củ, ngũ cốc nguyên hạt…
Hạn chế ăn các thực phẩm có nhiều cholesterol và chất béo như thịt đỏ, xúc xích, thịt bò, bơ và mỡ heo.
Tăng cường hấp thụ chất đạm để chống thoái hóa mỡ tế bào gan vì cholin và methionin có trong chất đạm còn được gọi là những chất tiêu mỡ có tác dụng chuyển hóa các chất béo từ gan đến kho dự trữ mỡ dưới da.
Ăn thức ăn giàu đường bột, vừa dễ tiêu mà lại không ảnh hưởng đến mật.

Thường xuyên tập thể dục:

Tập thể dục thường xuyên có thể giúp giảm lượng cholesterol xấu trong cơ thể và do đó có thể giúp ngăn ngừa bệnh sỏi mật rất tốt.
Tập thể dục cũng là cách tốt nhất chống lại béo phì và bệnh tiểu đường (hai yếu tố gây nên nguy cơ mắc bệnh sỏi mật).
Bạn nên dành ra một khoảng thời gian ít nhất 30 phút để vân động cơ thể mỗi ngày nhằm giữ cho cơ thể luôn khỏe mạnh.
Tránh một số loại thuốc: Một số loại thuốc có thể gây nguy cơ mắc bệnh sỏi mật mà bạn cần phải tránh, bao gồm cả thuốc giảm cholesterol (như gemfibrozil, fenofibrate) và thuốc uống tăng lượng estrogen cho cơ thể.
Đối với nước ta, nhiễm khuẩn đường mật vẫn còn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hình thành sỏi mật, đặc biệt là nhiễm ký sinh trùng đường mật.

Do đó, một số biện pháp phòng bệnh hiệu quả có thể kể thêm là:

Ăn uống vệ sinh: ăn uống thức ăn đã nấu chín.
Tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần.
Rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
Không nên ăn thức ăn đường phố.
Trẻ em hạn chế ăn quà vặt cổng trường.
Đối với người có tiền sử giun chui ống mật cần tẩy giun định kỳ 2 lần trong một năm.

7./Điều trị

 
Điều trị tùy thuộc thành phần sỏi và mức độ trầm trọng của bệnh. Có nhiều cách điều trị sỏi mật, cụ thể:

Với sỏi mật nói chung, điều trị hỗ trợ bằng giảm đau và kháng sinh, can thiệp ngoại khoa khi có biến chứng.

 
Với sỏi túi mật:

Dùng thuốc giúp tan sỏi, áp dụng đối với sỏi cholesterol dưới 1.5cm, tốt nhất với sỏi dưới 5mm, thời gian dùng kéo dài 6-24 tháng. Nên kết hợp sử dụng với các sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên giúp hạn chế tác dụng phụ của thuốc tây và sử dụng lâu dài an toàn.
Tán sỏi bằng bằng sóng, làm tan sỏi trực tiếp bằng hóa chất.
Cắt túi mật qua nội soi: Dùng với sỏi to, gây đau nhiều hoặc gây viêm túi mật, đây là phương pháp được dùng phổ biến hiện nay, rút ngắn thời gian nằm viện và hồi phục sức khỏe nhanh.
Cắt túi mật bằng mổ phanh: Áp dụng trong trường hợp mổ nội soi thất bại hoặc viêm mủ túi mật.

Với sỏi trong gan và ống mật chủ:

Lấy sỏi qua nội soi ngược dòng cắt cơ oddi: áp dụng với sỏi ở ống mật chủ sỏi nhỏ dưới 1.5 cm. Phương pháp này giúp tránh được phẫu thuật.
Tán sỏi ngoài cơ thể bằng sóng.
Phẫu thuật để lấy sỏi.

 
8./Các biện pháp giúp ngăn ngừa bệnh tái phát

 
Một vấn đề khó khăn trong điều trị sỏi mật hiện nay là tỉ lệ tái phát sỏi sau phẫu thuật và điều trị rất cao. Vì vậy, sau khi phẫu thuật lấy sỏi cần thực hiện một số biện pháp sau nhằm dự phòng tái phát sỏi:

Cần hạn chế ăn những thực phẩm giàu cholesterol: Chuyện ăn bao nhiêu cholesterol là đủ thì không có một ước lượng quy chuẩn nào cho người bị sỏi. Nhưng có một điều khuyên là không nên ăn những thực phẩm giàu chất này, cụ thể:
Cần hạn chế là lòng đỏ trứng gà, phủ tạng động vật như tim, gan, óc,…
Một tuần không nên ăn quá 3 quả trứng và không quá 1 quả tim.
Hạn chế ăn đồ chiên, xào.
Cần tăng vận động cho đường mật để tăng tống sỏi: Các thực phẩm làm tăng vận động mật là như sữa, gói thuốc bột MgSO4, rau quả,… Bạn nên bổ sung nhiều rau quả vào chế độ ăn, tối thiểu 500g rau một ngày.
Cần tăng cường vận động cơ thể: Vận động làm tăng hoạt động cơ, làm tăng nhu động mật, làm giảm sự ứ trệ. Nó rất có hiệu quả làm mạnh mẽ sức khỏe hệ tiêu hóa và giảm hẳn nguy cơ sỏi mật tái phát.
Các môn thể thao như đi bộ, chạy chậm, tập dưỡng sinh tốt với mọi người ở mọi lứa tuổi.
Nếu có thể, buổi sáng bạn vận động 30 phút, buổi chiều vận động 30 phút. Như thế sẽ tốt hơn cho hệ tiêu hóa.
Lưu ý là không vận động quá nặng với sức khỏe thể lực, điều đó có hại hơn có lợi.
Cần duy trì đủ 3 bữa/ngày dù có vội. Vì mật được tiết ra liên tục, nếu chúng ta ăn đủ 3 bữa/ngày thì sẽ không có cơ hội cho mật lắng đọng. Làm như thế, chúng ta sẽ giảm hẳn nguy cơ sỏi mật tái phát. Đừng nhịn ăn sáng để đến quá trưa ăn một thể. Điều này có nhiều tai hại hơn chúng ta tưởng.