Nguy cơ gây bệnh và cách điều trị bệnh động mạch vành

1./Thông tin chung về bệnh

 

  • Động mạch vành là tên gọi của các động mạch dẫn máu đến nuôi tim để cho tim có thể hoàn thành chức năng của nó.
  • Bệnh động mạch vành (hay còn gọi là bệnh suy tim động mạch vành, thiếu máu cơ tim, thiểu năng vành và bệnh tim thiếu máu cục bộ) là bệnh lý chỉ tình trạng lòng mạch bị hẹp lại do các mảng xơ vữa hoặc do co thắt mạch. Đến một mức độ nào đó thì dòng máu đến nuôi cơ tim sẽ không đủ và dẫn đến tình trạng thiếu máu cơ tim.
  • Bệnh động mạch vành được ví von là “sát thủ” đáng gờm của nhân loại vì đây là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới.

 

2./Các yếu tố nguy cơ gây bệnh động mạch vành

 

Người ta nhận thấy ngày càng có nhiều nguy cơ tim mạch xuất hiện. Các yếu tố nguy cơ được phân thành hai dạng: yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được và yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được, cụ thể:

Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được: 

  • Tuổi: Khoảng 82% người tử vong vì bệnh đông mạch vành là từ 65 trở lên. Khi lớn tuổi, bệnh nhân nữ thường dễ bị tử vong vì đau tim hơn nam giới.
  • Giới: Nam giới có nguy cơ bị đau tim cao hơn phụ nữ và bị sớm hơn. Ngay cả sau giai đoạn mãn kinh, khi tỉ lệ tử vong phụ nữ do bệnh tim tăng lên thì cũng không bằng nam giới.
  • Di truyền: Nếu trong gia đình có người bị bệnh tim, bạn cũng có nguy cơ cao bị bệnh này.

Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được: 

  • Tăng huyết áp: làm “xói mòn và khoét rộng” những chỗ tổn thương trên lớp lót mặt trong thành động mạch, gây lắng đọng nhiều mảng xơ vữa. Hơn nữa, tăng huyết áp làm tim phải tăng cường hoạt động để thắng lại áp lực máu cao, sẽ rất nguy hiểm cho tim nếu động mạch vành bị hẹp do xơ vữa hoặc tim không đảm đương nổi chức năng bơm do bị nhồi máu cơ tim trước đây.
  • Tăng cholesterol trong máu: Khi cholesterol máu tăng, nguy cơ mắc bệnh động mạch vành cũng tăng theo. Khi có các yếu tố nguy cơ khác (chẳng hạn như huyết áp cao và hút thuốc lá), nguy cơ này thậm chí còn tăng cao hơn nữa. Mức cholesterol có thể thay đổi dưới tác động của tuổi tác, giới tính, tiền sử sức khỏe gia đình và chế độ ăn uống.
  • Hút thuốc lá (kể cả thuốc lào): Khói thuốc lá gây tổn thương mạch máu, khi kết hợp với các yếu tố nguy cơ khác làm gia tăng đáng kể khả năng bệnh mạch vành.
  • Thừa cân/béo phì: ở các mức độ khác nhau đều làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Béo phì càng nhiều thì khả năng xuất hiện các yếu tố tiền đề cho xơ vữa động mạch như tăng huyết áp, đái tháo đường cũng như nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao.
  • Đái tháo đường: Nồng độ đường trong máu tăng không kiểm soát được làm tăng nguy cơ bệnh tim, thận và đột qụy lên rất cao do làm tổn thương mạch máu.
  • Lười vận động: Việc không tập thể dục (ít nhất 30 phút) mỗi ngày được coi là một trong những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh tim mạch.
  • Uống rượu: Uống quá nhiều rượu (nhiều hơn một đơn vị uống: tương đương 60ml rượu vang, 300 ml bia, hoặc 30 ml rượu nặng) mỗi ngày có thể gây hại cho sức khoẻ như làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ tổn thương gan, biến chứng thần kinh trung ương và các rối loạn về tim mạch, v.v.
  • Stress: Một số chuyên gia đã cảnh báo về mối liên quan giữa bệnh mạch vành và các stress không kiểm soát trong cuộc sống của bạn.

 

p49134

 

3./Hậu quả của bệnh động mạch vành

 

  • Hẹp lòng động mạch vành sẽ gây ra tình trạng thiếu máu cơ tim, tình trạng này có thể kéo dài lâu ngày. Bệnh nhân sẽ bị đau ngực, suy tim, rối loạn nhịp tim và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cấp.
  • Khi mảng xơ vữa trong lòng động mạch vành vỡ ra thì sẽ làm bít tắc hoàn toàn động mạch vành và gây ra thiếu máu cơ tim cấp tính, nặng nề, hoại tử cơ tim – còn được gọi là nhồi máu cơ tim cấp. Tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim cấp rất cao. Bệnh nhân qua được cơn nhồi máu cơ tim cấp có thể sẽ bị suy tim sau nhồi máu cơ tim, bị rối loạn nhịp tim sau nhồi máu cơ tim.

 

4./Triệu chứng 
Bệnh động mạch vành có thể mất nhiều năm để tiến triển. Bạn có thể không nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào của bệnh cho đến khi động mạch vành đủ hẹp. Khi đó, bạn có thể gặp các triệu chứng như:

  • Đau ngực: triệu chứng thường gặp nhất là đau thắt ngực. Đau khởi phát khi gắng sức, ở ngay sau xương ức, đau nhói, thắt chặt, lan ra vai trái, cánh tay trái, bàn tay trái. Đau giảm đi khi nghĩ tĩnh hoặc khi dùng thuốc dãn mạch. Nếu cơn đau xuất hiện lúc nghỉ tĩnh hoặc cơn đau quá trầm trọng hoặc cơn đau kéo dài trên 30 phút thì phải nghĩ đến là bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp.
  • Cũng có những trường hợp bệnh nhân bị động mạch vành mà không có triệu chứng đau ngực. Những trường hợp đó gọi là thiếu máu cơ tim yên lặng. Trong trường hợp này bệnh nhân có thể có biểu hiện như hở van hai lá, suy tim, rối loạn nhịp tim.

 

5./Cách xử lý khi bị đau ngực
Khi cơn đau ngực như mô tả ở trên xảy ra, bạn cần lưu ý như sau:

  • Ngưng hoạt động và công việc đang làm, báo ngay cho thân nhân (bằng điện thoại). Nên nằm nghỉ, sử dụng thuốc nitroglycerine ngậm dưới lưỡi cơn đau sẽ giảm.
  • Nếu sau 10-30 phút mà tình trạng đau ngực không đỡ, đặc biệt khi đã sử dụng nitroglycerine ngậm dưới lưỡi thì bệnh nhân cần được đưa đi bệnh viện ngay bằng phương tiện an toàn và nhanh nhất.

 

6./Phòng ngừa 
Nguyên nhân chủ yếu gây bệnh động mạch vành là do tăng huyết áp, do đó cách phòng ngừa đột quỵ hữu hiệu nhất là loại bỏ yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp:

  • Ăn thức ăn ít chất béo (5-8 thìa cà phê dầu mỡ/ngày), giảm ăn mặn (2-4 g/NaCl), giảm đường (nếu bị đái tháo đường).
  • Tránh hút thuốc lá là cách tốt nhất để duy trì sức khỏe và ngăn ngừa nhồi máu cơ tim, ung thư phổi, đột quỵ.
  • Uống rượu, bia vừa phải.
  • Giữ cân nặng ở mức độ thích hợp.
  • Tập thể dục thường xuyên, đều đặn.
  • Tránh căng thẳng áp lực công việc.

Những con số đặc trưng để giữ sức khỏe: 035 140 530
0 : Không hút thuốc.
3 : Đi bộ 3 km mỗi ngày hoặc 30 phút bất kỳ hoạt động vừa phải.
5 : Ăn 5 phần trái cây/rau quả mỗi ngày.
140 : Giữ huyết áp tâm thu kiểm soát dưới 140mmHg.
5 : Cholesterol toàn phần < 5mmol/L.
3 : LDL cholesterol < 3mmol/L.
0 : Tránh quá cân, không đái tháo thường.

 

7./Điều trị 
Hiện tại có ba phương pháp điều trị bệnh động mạch vành:

  • Điều trị nội khoa (dùng thuốc): Hầu hết người bị bệnh động mạch vành phải dùng thuốc để giúp kiểm soát bệnh.
  • Điều trị các yếu tố nguy cơ để bệnh không tiến triển nặng thêm: điều trị tăng huyết áp, điều trị đái tháo đường, bỏ hút thuốc lá, giảm cân nặng,…
  • Điều trị phòng ngừa nhồi máu cơ tim cấp: dùng các loại thuốc kháng kết dính tiểu cầu để phòng ngừa đông máu gây tắc mạch vành.
  • Điều trị chống cơn đau thắt ngực bằng các loại thuốc dãn mạch.
  • Can thiệp động mạch vành (nong rộng lòng động mạch, đặt khung giá đỡ trong lòng động mạch vành)
  • Dùng cho các trường hợp đau ngực do bệnh mà ít hoặc không đáp ứng với thuốc điều trị nội khoa.
  • Dùng cho các trường hợp bị đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim cấp.
  • Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành:
  • Dùng cho các trường hợp động mạch vành bị tổn thương nhiều chổ, tổn thương kéo dài… cho các trường hợp mà can thiệp động mạch vành không thể can thiệp được.
  • Đây là một cuộc phẫu thuật lớn, dùng các mạch máu khác của ngay chính bản thân bệnh nhân để làm cầu nối qua chỗ động mạch vành bị hẹp.