Bênh cúm: Các triệu chứng thường gặp

(95%) nhiệt độ thường cao đến 39-40 độ, nhịp tim nhanh tỷ lệ với  nhiệt độ,  thở khá nhanh , chảy mũi nước, ho. Xung huyết kết mạc, niêm mạc mũi hầu,viêm khí quản, đôi khi chảy máu cam và rối lọan tiêu hóa( đặc biệt rất chán ăn )

Lâm sàng:

Ủ bệnh:  2-3 ngày (có thể đến 5 ngày).

Khởi bệnh:  đột ngột, với sốt, nhức đầu, đau lưng, mệt mỏi.

Thể đơn giản:  (95%) nhiệt độ thường cao đến 39-40 độ, nhịp tim nhanh tỷ lệ với  nhiệt độ,  thở khá nhanh , chảy mũi nước, ho. Xung huyết kết mạc, niêm mạc mũi hầu,viêm khí quản, đôi khi chảy máu cam và rối lọan tiêu hóa( đặc biệt rất chán ăn ) Bệnh tiến triển nhanh, sốt biến mất trong vòng 4-5 ngày; ở những người trẻ hồi phục rất nhanh, nhưng ở những người già, mệt mỏi và suy nhược  sẽ kéo dài.

Thể viêm phế quản: Viêm phế quản bắt đầu từ ngày thứ 5, ngày đáng lẽ cúm bắt đầu thuyên giảm, sốt vẫn tiếp tục kéo dài, kèm theo ho; nghe phổi có những rale ẩm và những rale nhỏ hạt. Đàm nhầy và chứa nhiều vi khuẩn gây bội nhiễm. Ở trẻ con, có thể có viêm tai giữa, và hiếm hoi có thể có dãn phế quản.

Thể tiêu hóa:  ỉa chảy, đau bụng.

Thể viêm phổi:  thường gặp ở người già, do nhiễm trùng thứ phát do phế cầu, tụ cầu, bội nhiễm cổ điển do Hemophillus influenza hay trực khuẩn Pfeiffer ngày nay rất hiếm.Viêm phổi thùy ít gặp hơn phế quản phế viêm . Thể nầy thường rất nặng ở những người già, và hồi phục rất chậm. Nặng hơn là những trường hợp viêm phổi do chính virut cúm hoặc phối hợp cả virut và vi khuẩn. Thường chỉ gặp ở những người mắc bệnh mạn tính có rối lợn nội môi sẵn hay suy giảm miễn dịch.

Thể ác tính:  Ngay từ lúc khởi đầu, bệnh nhân tím tái, khó thở,thường có phù phổi cấp và sốc. Bệnh nhân có thể tử vong do nhiễm độc cơ tim trong vài ngày. Hội chứng Rye có thể kết hợp, nhất là ở trẻ con có dùng Aspirine .

Thể thần kinh: Viêm não, viêm ngang tủy,hội chứng Guillian Barré .

Cận lâm sàng:

Bạch cầu thường giảm, nhưng khi có bội nhiễm, bạch cầu thường tăng.Ở những labo chuyên trách, người ta có thê phân lập được virut cúm từ đàm giải; thực hiện các phản ứng cố định bổ thể, ức chế ngưng kết hồng cầu, so sánh hai lần cách nhau ít nhất một tuần. Tuy nhiên chúng chỉ có giá trị hồi cứu trong các vụ dịch.

Tiên lượng

Với những ca không có biến chứng, tiên lượng rất tốt. Với những ca có biến chứng phổi, tỷ lệ tử vong thường cao hơn ở những người già, những người có bệnh tim phổi mạn tính, những người suy giảm miễn dịch, những người có bệnh chuyển hóa như đái đường, suy thận mạn. Do đó cần chụp X-quang phổi cấp cứu khi có khó thở hoặc tăng nhịp thở.

 Theo bacsi.com